AFRAVIETMUR

Aller au contenu | Aller au menu | Aller à la recherche

mercredi 25 juillet 2012

Traumastismes craniens aux urgences // Chấn thương đầu tại khoa Cấp cứu

drapeau françaisLes traumatismes crâniens vus aux urgences regroupent des patients ayant des lésions très différentes. Du cas le plus simple au cas le plus grave, tous les degrés de gravité sont possible. La difficulté pour le médecin urgentiste est de détecter parmi les TC d'allure mineure, ceux qui seront susceptibles de développer des complications graves. Si le scanner cérébral est un moyen très performant pour détecter des lésions intra-craniennes post-traumatiques, il doit être évité en l'absence de signe clinique, notamment chez l'enfant. En effet, une récente étude a montré un risque significativement accru de tumeurs cérébrales chez les enfants ayant eu plusieurs scanners durant leur enfance. Un délai d'observation de quatre heures après le traumatisme est considéré comme prudent, afin de détecter les aggravations retardées.
Closed head injury CT
Au moindre signe de gravité, la scanner cérébral doit être réalisé en urgence. Si le patient est jugé à faible risque, il peut quitter le service des urgences mais sous surveillance étroite de son entourage. Des consignes claires doivent être délivrées au patient ou a son entourage, permettant d'assurer une surveillance à domicile et un retour rapide aux urgences en cas de détérioration neurologique. Une attention toute particulière doit être donnée aux patients alcoolisés, victimes d'un TC, l'examen neurologique pouvant être difficile, l'alcool pouvant masquer le tableau.

Nous rappelons ici les recommandations en matière de traumatisme crânien aux urgences:Closed head injury in ED

Chấn thương đầu thường gặp tại cấp cứu thường là những bệnh nhân với các tổn thương khác nhau. Từ trường hợp đơn giản nhất đến trường hợp phức tạp nhất, mọi tình trạng nghiêm trọng đều có thể xảy ra. Thách thức đối với các bác sĩ Cấp cứu là xác định được trong từng trường hợp chấn thương đầu mới nhận biết, trường hợp nào có thể xảy ra những nguy cơ biến chứng nghiêm trọng. CT đầu là một phương pháp khá hoàn hảo để xác định các tổn thương nội sọ sau chấn thương, nhưng nên tránh trong trường hợp không có những dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt là ở trẻ nhỏ. Thực tế, một nghiên cứu gần đây đã cho thấy nguy cơ gia tăng đáng kể với các khối u não ở trẻ em đã từng chụp CT Scanner nhiều lần khi còn nhỏ. Nên cẩn thận theo dõi sau chấn thương đầu trong 4 giờ để phát hiện những biến chứng muộn.
Closed head injury CT
Nếu phát hiện những dấu hiệu nghiêm trọng dù là nhỏ nhất, việc chụp CT đầu là khẩn cấp. Nếu bệnh nhân với nguy cơ thấp, bệnh nhân có thể xuất viện nhưng phải được gia đình theo dõi chặt chẽ. Các phiếu hướng dẫn theo dõi phải được gửi đến bệnh nhân hoặc gia đình , cho phép theo dõi tại nhà và quay trở lại Cấp cứu ngay khi có dấu suy giảm thần kinh. Cần đặc biệt lưu ý đến những bệnh nhân có nồng độ cồn, nạn nhân chấn thương đầu, vì việc kiểm tra dấu thần kinh có thể khó khăn hơn, do rượu làm mất đi các dấu hiệu lâm sàng.

Chúng tôi nhắc lại dưới đây các khuyến cáo về chấn thương đầu tại khoa cấp cứu:Closed head injury in ED

mercredi 11 juillet 2012

Coliques néphrétiques aux urgences // Cơn đau quặn thận tại khoa Cấp cứu

drapeau françaisMotif très fréquent de recours aux urgences, les coliques néphrétiques ne posent en général pas trop de problème diagnostique tant les crises douloureuses sont souvent stéréotypées (douleur en fosse lombaire irradiant vers l'avant en région inguinale. Le traitement fait appel aux anti-inflammatoires non stéroïdiens et aux antalgiques de pallier 2 voire 3. L'usage de la morphine n'est pas contre-indiqué et son action associée aux anti-inflammatoires est rapidement efficace.
UroscannerL'uroscanner sans injection de produit de contraste a supplanté l'échographie pour la visualisation des calculs et permet parfois un diagnostic différentiel (fissuration d'anévrisme de l'aorte). Il permet de mettre en évidence le ou les calculs, de les localiser, d'évaluer leur taille et d'apprécier le retentissement sur l'arbre urinaire en amont (hydronéphrose, infiltration péri-rénale).
Si la grande majorité des coliques néphrétiques répondent bien au traitement médical et sont d'évolution favorable en quelques heures ou jours, il ne faut pas méconnaître les complications qui peuvent compromettre le pronostic fonctionnel des reins et parfois même le pronostic vital.
Renal colic managementL'infection des voies urinaires est la principale complication des coliques néphrétiques. C'est pourquoi toute colique néphrétique fébrile ou associée à un tableau septique (fièvre ou hypothermie, frissons, hyperleucocytose, CRP augmentée) doit faire l'objet de la plus grande attention. Un avis urologique rapide et une hospitalisation s'imposent. Un traitement antibiotique intra-veineux doit être débuté dès les prélèvement biologiques effectués (ECBU, hémocultures).

Nous rappelons ici les grandes lignes de la prise en charge des coliques néphrétiques aux urgences avec en particulier les principales complications à rechercher systématiquement.

Management of renal colic in ED: Renal colic in ED

Là một dạng bệnh lý thường gặp tại khoa Cấp cứu, các cơn đau quặn thận nhìn chung thường không quá khó để chẩn đoán, với các cơn đau thường điển hình (đau vùng thắt lưng lan ra phía trước vùng bẹn). Điều trị với thuốc kháng viêm không steroide và thuốc giảm đau bậc 2 và cả bậc 3. Morphine không chống chỉ định và việc dùng Morphine kết hợp với các loại kháng viêm sẽ cho hiệu quả nhanh chóng.
Uroscanner CT bộ niệu không thuốc cản quang thay vì siêu âm sẽ cho thấy được các viên sỏi và đôi khi cho phép một chẩn đoán phân biệt (nứt phình động mạch chủ). Nó cho thấy rõ một hoặc nhiều viên sỏi, xác định vị trí chính xác, đánh giá kích thước và đánh giá ảnh hưởng đường niệu trên (thận ứ nước, thâm nhiễm quanh thận).
Nếu phần lớn các cơn đau quặn thận đáp ứng tốt với điều trị nội khoa và tiến triển thuận lợi trong một vài giờ hay một vài ngày, nên tiên lượng trước các biến chứng có thể đe dọa chức năng thận và có khi là cả tính mạng.
Renal colic managementNhiễm trùng đường tiểu là biến chứng điển hình từ các cơn đau quặn thận. Do vậy, tất cả các cơn đau quặn thận kèm sốt hđặc kết hợp với một hoặc các yếu tố nhiễm trùng (sốt hoặc hạ thân nhiệt, ớn lạnh, bạch cầu tăng, CRP tăng) cần phải được lưu ý chặt chẽ. Cần hội chẩn ý kiến chuyên khoa niệu và nhập viện ngay. Bắt đầu điều trị kháng sinh truyền tĩnh mạch ngay sau khi làm các xét nghiệm lâm sàng (cấy nước tiểu, cấy máu).

Chúng tôi trình bày lại sau đây những điểm chính liên quan đến điều trị cơn đau quặn thận tại Cấp cứu, đặc biệt là các biến chứng chính được nghiên cứu theo hệ thống.

Điều trị cơn đau quặn thận tại khoa Cấp cứu: Renal colic in ED

mardi 10 juillet 2012

Purpura Fébrile aux urgences // Ban xuất huyết tại khoa Cấp cứu

Purpura FulminansLe purpura fébrile reste une des grandes urgences infectieuses de part le monde. Nous reprenons ici les recommandations du "Scottish Intercollegiate Network 2008" pour la prise en charge de cette affection qui peut être rapidement mortelle. Le traitement repose sur l'administration aussi rapide que possible d'une dose d'antibiotique intra-veineuse (Ceftriaxone 50mg/Kg + Amoxicilline 50mg/Kg) juste après la réalisation d'hémocultures. La ponction lombaire n'est pas indiquée s'il existe des signes de septicémie (purpura) et ne doit pas retarder le traitement antibiotique. Le remplissage vasculaire par Soluté salé isotonique ou Macromolécules à la dose de 20ml/Kg/20 min. vient compléter le traitement du choc septique associé. Les corticoides, s'ils ont une indication dans la méningite à méningocoque de l'enfant, n'ont pas de place dans le traitement du purpura fulminans.

Présentation Purpura Fébrile: Febrile Purpura

Ban xuất huyết là một trong nhiều trường hợp nhiễm trùng cấp thường gặp trên thế giới. Chúng tôi nhắc lại dưới đây các khuyến cáo của "Scottish Intercollegiate Network 2008" trong việc điều trị nguy cơ rất dễ dẫn đến tử vong này. Việc điều trị dựa trên phác đồ điều trị kháng sinh truyền tĩnh mạch nhanh nhất có thể (Ceftriaxone 50mg/Kg + Amoxicilline 50mg/Kg) ngay sau khi làm cấy máu. Không có chỉ định chọc dò tủy sống nếu có dấu hiệu nhiễm trùng huyết (xuất huyết) và không nên trì hoãn việc điều trị bằng kháng sinh. Bù dịch với truyền tĩnh mạch bằng dung dịch nước muối đẳng trương hoặc dung dịch đại phân tư theo liều 20ml/Kg/20 phút sẽ bổ sung cho việc điều trị có kèm sốc nhiễm trùng. Thuốc corticoide không được dùng trong việc điều trị ban xuất huyết tối cấp nếu có dấu hiệu viêm màng não do não mô cầu ở trẻ em.

Présentation Purpura Fébrile: Febrile Purpura

Intérêt du Protoxyde d'azote N20 aux urgences // Lợi ích của khí N2O tại khoa Cấp Cứu

Nitrous Oxide in ED
Le mélange protoxyde d'azote-oxygène est utilisé en France depuis de nombreuses années. Il a fait son apparition dans les services d'urgence au milieu des années 90 sous le nom "Méopa" (Mélange Equimoléculaire Oxygène Protoxyde d'Azote), puis plus récemment sous le nom "Kalinox" produit par la firme française Airliquide.
Ses principales indications concernent le traitement des douleurs brèves en particulier les douleurs liées aux soins: pansements de brûlure, réduction de luxation d'épaule, réduction de fracture. Il est particulièrement utilisé chez les enfants pour la réalisation de petites sutures voire même pour la pose de cathéter intraveineux. Son action est cependant variable d'un patient à l'autre, et il ne dispense pas l'association à des antalgiques comme le Tramadol, la Codeine ou la Morphine.
Nitrous Oxide in EDMalheureusement ce gaz n'est pour le moment pas distribué au Vietnam. Il est cependant possible de l'importer sous forme de bouteilles de N20 qu'il faut alors mélanger à de l'oxygène via un mélangeur de gaz, permettant d'obtenir un mélange 50%N20/50%O2.

Nitrous Oxide in EDCe dispositif est expérimenté depuis le mois de mai 2012 aux urgences du FVHospital à Ho Chi Minh. Nous vous présentons ici l'intérêt que pourrait avoir le protoxyde d'azote pour les services d'urgences aux Vietnam.

Présentation du Protoxyde d'Azote: Nitrous Oxide in ED

Protocole Nitrous Oxide in ED: Nitrous Oxide Protocol in ED

Nitrous Oxide in ED
Hỗn hợp oxit nitơ được sử dụng tại Pháp từ nhiều năm nay. Hỗn hợp này xuất hiện vào giữa những năm 90 tại các khoa cấp cứu với tên gọi "Méopa" (Mélange Equimoléculaire Oxygène Protoxyde d'Azote), sau đó gần đây có tên gọi "Kalinox" được sản xuất bởi tập đoàn Airliquide của Pháp.
Các chỉ định chính của hỗn hợp này bao gồm việc điều trị các cơn đau ngắn, đặc biệt là các cơn đau liên quan đến việc săn sóc: thay băng phỏng, giảm đau trong trật khớp vai, gãy xương. Đặc biệt, hỗn hợp này được dùng ở trẻ nhỏ khi thực hiện thủ thuật khâu các vết thương nhỏ, và cả khi đặt đường truyền tĩnh mạch. Tuy nhiên, tác dụng của nó thay đổi tùy theo từng bệnh nhân, và không làm giảm sự kết hợp của các lọai thuốc giảm đau như Tramadol, Codeine hay Morphine.
Nitrous Oxide in EDThật không may, khí này hiện vẫn chưa đươc phân phối tại Việt Nam. Tuy vậy, nó vẫn có thể được nhập khẩu dưới dạng chai N20 sau đó phải được trộn với oxy thông qua một bộ trộn khí, cho phép chứa một hỗn hợp 50%N20/50%O2.

Nitrous Oxide in ED Thiết bị này được thử nghiệm tại khoa Cấp cứu bệnh viện FV ở TP.HCM từ tháng 5/2012. Chúng tôi trình bày sau đây lợi ích của khí nitơ oxit tại các khoa cấp cứu ở Việt Nam.

giới thiệu về khí N2O: Nitrous Oxide in ED

Quy trình sử dụng khí N2O tại khoa Cấp cứu: Nitrous Oxide Protocol in ED

Intoxication aux crabes des mangroves ou limules des mangroves (Carcinoscorpius Rotundicauda) // Ngộ độc các loại sam (Carcinoscorpius Rotundicauda)

Mangrove horseshoe crab
Les vietnamiens sont friants de fruits de mer en tout genre. Certains crabes des mangroves peuvent pourtant être à l'origine de graves réactions toxiques secondaires à l'ingestion d'une toxine appelée "tétrodotoxine".
Carcinoscorpius Rotundicauda
Le Dr Tan rapporte ici le cas d'une homme de 65 ans victime d'une intoxication grave survenue quelques heures après avoir mangé une variété de "crabes" des mangroves appelée "Carcinoscorpius Rotondicauda".

Carcinoscorpius Rotundicauda intoxication

Article paru dans la revue "Fisheries Science" en avril 2009:
Frequent occurrence of the tetrodotoxin-bearing horseshoe crab Carcinoscorpius rotundicauda in Vietnam

TetrodotoxineTetrodotoxin (TTX) was detected by HPLC and LC-MS/MS in specimens of the horseshoe crab Carcinoscorpius rotundicauda collected from Tan Hai village, Vung Tau province, Vietnam, where cases of poisoning due to the consumption of horseshoe crab have frequently been reported. The soft tissue from 10 out of the 12 specimens analyzed showed considerable levels of TTX, making them unsafe for human consumption (81.2 ± 50.3 MU/g). Paralytic shellfish poisoning (PSP) toxins were also detected in all of the specimens, but the levels were low. These findings show that the frequency of occurrence of C. rotundicauda specimens with a high level of TTX is significantly high, and that the TTX is responsible for the food poisonings caused by the consumption of C. rotundicauda in this area.

Lien vers l'article complet (cliquez sur "look inside" pour visualiser l'article en anglais): http://rd.springer.com/article/10.1...

Mangrove horseshoe crab
Người Việt nam thường rất thích ăn các loại hải sản. Tuy vậy, một số loại sam vẫn có thể là nguồn gốc gây ra các phản ứng ngộ độc nghiêm trọng từ một chất độc có tên là "tétrodotoxine".
Carcinoscorpius Rotundicauda
Bác sĩ Tấn báo cáo dưới đây trường hợp một bệnh nhân nam 65 tuổi, là nạn nhân bị ngộ độc nghiêm trọng cách đây vài giờ sau khi ăn một loại sam có tên là "Carcinoscorpius Rotondicauda".

Carcinoscorpius Rotundicauda intoxication

Bài báo đăng trong tạp chí "Fisheries Science" en avril 2009:
Frequent occurrence of the tetrodotoxin-bearing horseshoe crab Carcinoscorpius rotundicauda in Vietnam

TetrodotoxineTetrodotoxin (TTX) was detected by HPLC and LC-MS/MS in specimens of the horseshoe crab Carcinoscorpius rotundicauda collected from Tan Hai village, Vung Tau province, Vietnam, where cases of poisoning due to the consumption of horseshoe crab have frequently been reported. The soft tissue from 10 out of the 12 specimens analyzed showed considerable levels of TTX, making them unsafe for human consumption (81.2 ± 50.3 MU/g). Paralytic shellfish poisoning (PSP) toxins were also detected in all of the specimens, but the levels were low. These findings show that the frequency of occurrence of C. rotundicauda specimens with a high level of TTX is significantly high, and that the TTX is responsible for the food poisonings caused by the consumption of C. rotundicauda in this area.

Liên kết đến bài viết đầy đủ (bấm nút "look inside" để xem bài viết bằng tiếng Anh): http://rd.springer.com/article/10.1...

mercredi 4 juillet 2012

Désordres Acido-Basiques aux urgences // Rối loạn Axít-Bazơ tại khoa Cấp cứu

Metabolic acidoketosis
Voici deux présentations de désordres métaboliques vus aux urgences. Le premier concerne un cas typique d'acido-cétose métabolique sévère chez un homme de 39 ans, diabétique, arrivé aux urgences dans un tableau de syndrome confusionnel et de deshydratation. Le second concerne un homme de 63 ans, diabétique sous Metformine, présentant une acidose métabolique sans cétose, avec trou anionique augmenté en rapport avec une insuffisance rénale aigue sévère.

  1. Metabolic disorder
  2. Metabolic disorder

Metabolic acidoketosis
Dưới đây là hai bài thuyết trình về trường hợp rối loạn chuyển hóa gặp tại khoa Cấp cứu. Trước tiên là một trường hợp điển hình rối loạn chuyển hóa axit cetone nghiêm trọng ở một bệnh nhân nam 39 tuổi, tiểu đường, nhập Cấp cứu trong tình trạng mê sảng và mất nước. Trường hợp thứ hai là một bệnh nhân nam 63 tuổi, điều trị tiểu đường với Metformine, nhập viện trong tình trạng rối loạn chuyển hoá axít không cetone, với dấu anion tăng nghĩ đến suy thận cấp nghiêm trọng.

  1. Metabolic disorder
  2. Metabolic disorder

jeudi 1 décembre 2011

Taxi-Ambulance, une solution originale pour sauver des vies au Vietnam // Taxi - xe cứu thương, giải pháp ban đầu trong việc cứu người tại Việt Nam.

Taxi Cap Cuu
drapeau françaisA Ho Chi Minh, ville de près de 10 millions d'habitants, et presque autant de mobylettes, il y a environ 100 accidents graves de la circulation par mois. Les statistiques officielles font état de 2 morts par jour contre 30 sur tout le Vietnam. En 2010, il y a eu ainsi 788 morts sur les routes de Ho Chi Minh, et avec l'accroissement du trafic routier et l'augmentation du nombre de voitures, ce chiffre est sans doute amené à augmenter dans les années à venir.
Il existe bien un système de ramassage des blessés par ambulances, mais celui-ci ne parvient à couvrir qu'une faible part des besoins. Ainsi le numéro d'urgence 115 n' a reçu que 6000 appels au cours de l'année 2010. Il existe bien un genre de SAMU mais ses capacités sont largement insuffisantes par rapports aux besoins énormes d'une telle population. Une étude réalisée en 2009 à l'hôpital Franco-Vietnamien avait montré que sur l'ensemble des personnes arrivées en arrêt cardiaque à l'hôpital, seul 17% d'entre elles avaient bénéficié d'un transport par ambulance. Les autres avaient toutes été transportées à l'arrière d'un taxi.
Une réflexion est en cours au niveau des autorités pour mettre en place un système plus efficace, permettant de prendre en charge toutes ces victimes dans un délai raisonnable (idéalement en moins de 20 minutes). Deux modèles existent dans les pays développés. D'un coté le système des "paramedics" américains, de l'autre le système des SMUR français (ambulance médicalisée). Ces deux systèmes ont chacun des avantages et des inconvénients, mais l'un comme l'autre permettent de sauver des vies.
Au Vietnam, quel que soit le système adopté, il faudra sans doute plus de 10 ans pour arriver à mettre en place un système efficace de prise en charge des blessés sur la voie publique. En attendant, les taxis continueront encore longtemps à transporter ces victimes vers l'hôpital le plus proche. Ce système est beaucoup critiqué car il place les victimes entre les mains de personnes non formées aux gestes de secourisme et non qualifiées pour la prise en charge des blessés.
Mais ce système a le mérite d'exister. Il repose sur un constat évident: il y a des taxis partout dans Ho Chi Minh, pouvant intervenir rapidement en moins de 10 minutes. Ce réseau est de plus coordonné via des liaisons radio centralisées vers un standard unique. Les deux plus grosses sociétés de taxi de la ville comptent environ 2000 véhicules chacune. Vingt fois plus que la centaine d'ambulance qui existerait sur la ville. Il suffirait donc de former les chauffeurs de taxis à la prise en charge des blessés et d'équiper chaque taxi avec un minimum de matériel de premier secours (attelles, collier cervical, pansement). Des formations pratiques et courtes de 3 heures permettraient de former ces chauffeurs afin qu'ils puissent transporter ces victimes sans risque d'aggraver d'éventuelles lésions.
Ce projet proposé par l'AFRAVIETMUR, a été présenté récemment lors du congrès de médecine d'urgence pré-hospitalière à l'hôpital Trung Vuong le 10 novembre dernier (cliquez sur le lien ci-dessous). Il a fait l'objet d'un article paru le lendemain dans le journal Tuoi Tre. Nous pensons que cette solution originale, même si elle n'est pas idéale, permettrait de sauver de nombreuses vies en attendant qu'un réel système préhospitalier efficace voit le jour.

Présentation du système de taxi-ambulance:Taxi-Ambulance

drapeau vietnamienTại TP. Hồ Chí Minh, thành phố với gần 10 triệu dân, với hầu như phương tiện di chuyển là xe gắn máy, có khoảng 100 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra mỗi tháng. Thống kê chính thức cho thấy, có hai ca tử vong mỗi ngày trên tổng số 30 ca trên khắp cả nước. Năm 2010, ghi nhhận tổng cộng 788 trường hợp tử vong trên các con đường TP. Hồ Chí Minh, và với sự gia tăng lượng giao thông đường bộ và gia tăng lượng xe hơi, con số này có lẽ sẽ tăng hơn nữa tong những năm sắp tới.
Hiện nay, có hệ thống vận chuyển người bị thương bằng xe cứu thương, nhưng hệ thống này chỉ có thể phục vụ một phần nhỏ các nhu cầu. Do vậy, số cấp cứu 115 chỉ nhận được 6000 cuộc gọi trong năm 2010. Thực tế, có loại xe cứu thương SAMU nhưng khả năng còn rất hạn chế so với nhu cầu quá lớn từ người dân thành phố. Một nghiên cứu thực hiện năm 2009 tại bệnh viện FV đã chứng minh rằng trên tổng số bệnh nhân đến bệnh viện trong tình trạng ngưng tim, chỉ có 17% trong số họ được đưa đến bằng xe cứu thương. Những bệnh nhân còn lại đều được tìm thấy ở băng ghế sau của xe taxi.
Mốt nghiên cứu đang được tiến hành ở cấp chính phủ để đưa ra một hệ thống có hiệu quả hơn, cho phép hỗ trợ tất cả các nạn nhân một cách kịp thời (lý tưởng nhất trong vòng 20 phút). Hai mô hình trên đã tồn tại ở các nước phát triển. Một mặt là hệ thống "paramedics" của Mỹ, mặt khác là hệ thống SMUR của Pháp (vận chuyển cấp cứu có kèm bác sĩ). Cả hai hệ thống trên đều có những lợi thế cũng như những bất lợi, nhưng hệ thống này hay hệ thống kia đều cùng mục đích cứu người.
Tại Việt Nam, với hệ thống đã được thông qua, có thể mất hơn 10 năm nữa để đi đến việc thiết lập một hệ thống chăm sóc người bị thương tại các điểm công cộng hiệu quả hơn. trong khi đó, taxi vẫn luôn là phương tịên vận chuyển nạn nhân đến bệnh viện gần nhất. Hệ thống này bị chỉ trích rất nhiều vì nạn nhân được đặt trong tay những người chưa từng được qua đào tạo sơ cứu và hỗ trợ chăm sóc người bị thương.
Nhưng hệ thống này vẫn có lý do để tồn tại. Rõ ràng thực tế cho thấy: xe taxi ở khắp mọi nơi trong thành phố, có thể đáp ứng nhanh chóng chưa tới 10 phút. Mạng lưới này càng phối hợp với nhau hơn thông qua hệ thống kiên kết bằng radio về tổng đài chính. Hai tập đoàn taxi lớn nhất của thành phố có khoảng 2000 xe với mỗi tập đoàn. Gấp 20 lần so với 100 xe cứu thương trong phạm vi thành phố. Điều đó cũng đủ để đào tạo các tài xế taxi cách chăm sóc người bị thương và cần trang bị cho mỗi xe taxi các thiết bị y tế bsơ cứu ban đầu tối thiểu (nẹp, nẹp cổ, băng gạc). Các chương trình đào tạo thực hành và ngắn hạn khoảng 3 giờ cho phép cung cấp kiến thức cho các tài xế để họ có thể vận chuyển nạn nhân mà không gây ra các nguy cơ tổn thương trầm trọng hơn.
Dự án này được tổ chức AFRAVIETMUR đề nghị, gần đây đã được trình bày tại Hội nghị Y học cấp cứu trước nhập viện tại bệnh viện Trưng Vương ngày 10/11 vừa qua (nhấp vào đường dẫn dưới đây). đây là đề tài xuất hiện trong báo Tuổi Trẻ ngày hôm sau. Chúng tôi tin rằng giải pháp ban đầu này, ngay cả khi nó không lý tưởng, sẽ cứu sống được rất nhiều người trong khi chờ đợi một hệ thống cấp cứu ngoại viện thực sự có hiệu quả hơn.

Tổng quan về hệ thống xe taxi - cứu thương:Taxi-Ambulance

Article paru dans le journal Tuoi Tre: http://tuoitrenews.vn/cmlink/tuoitr...

lundi 21 novembre 2011

Retour sur notre premier Congrès Franco-Vietnamien de médecine d'urgence à l'hôpital Gia Dinh / Trở lại Hội nghị Y học Cấp cứu Pháp - Việt lần thứ nhất tại bệnh viện nhân dân Gia Định.

congrès Gia-Dinh drapeau françaisRetour sur ce premier congrès organisé par l'Afravietmur qui s'est tenu à l'Hôpital Gia Dinh et qui a accueilli ce 11 novembre 2011 près de 150 médecins urgentistes de Ho Chi Minh. Merci à nos invités qui avaient fait le déplacement de France: Professeur Jean-Louis Pourriat de l'hôpital Cochin, le Dr Jean-Claude Deslandes de la revue Urgence Pratique, le Dr Lionel Lamhaut du SAMU de Paris. Le niveau scientifique de leurs exposés a largement contribué au succès de cette journée.
congrès Gia-Dinh Merci également à l'hôpital Gia-Dinh et au Dr Ninh de nous avoir accueilli de manière si chaleureuse. Merci enfin aux différents sponsors sans qui cet évènement n'aurait pas pu voir le jour. Rendez-vous l'année prochaine pour la seconde édition.


Programme scientifique: Programme Gia-Dinh congress

congrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinhcongrès Gia-Dinh

congrès Gia-Dinh drapeau vietnamienTrở lại với Hội nghị lần thứ nhất tổ chức bởi Afravietmur tại bệnh viện nhân dân Gia Định và đã đón tiếp gần 150 bác sĩ cấp cứu tại TP. Hồ Chí Minh vào ngày 11/11/2011 vừa qua. Xin được gửi lời cám ơn các vị khách mời đến từ Pháp: Giáo sư Jean-Louis Pourriat từ bệnh viện Cochin, bác sĩ Jean-Claude Deslandes đến từ tạp chí Cấp cứu thực hành, bác sĩ Lionel Lamhaut từ tổ chức SAMU ở Paris. Nghiên cứu khoa học từ các bài thuyết trình đã góp phần lớn vào thành công của buổi hội nghị.
congrès Gia-Dinh Đồng cảm ơn bệnh viện nhân dân Gia Định và bác sĩ Ninh đã tiếp đón chúng tôi nồng nhiệt. Cuối cùng xin được cảm ơn quý nhà tài trợ, vì nếu không có các quý vị sẽ không thể có được hội nghị thành công như vậy. Xin được hẹn gặp lại vào hội nghị lần thứ hai vào năm sau.

mardi 8 novembre 2011

Congrès Franco-Vietnamien de médecine d'urgence: J-3 / Hội nghị Y Học Cấp cứu Pháp - Việt

Affiche congrèsDans trois jours aura lieu, ici à Ho Chi Minh, le premier congrès franco-vietnamien de médecine d'urgence co-organisé par l'AFRAVIETMUR et l'hôpital Gia Dinh. A cette occasion, trois conférenciers venus spécialement de France viendront se joindre à nous. C'est une longue période de gestation qui s'achève. Notre association franco-vietnamienne de médecine d'urgence connue sous l'acronyme barbare d'AFRAVIETMUR a vu le jour en juin 2009, à quelques semaines de mon départ pour le Vietnam. A cette époque, nous ne savions pas trop si cela allait déboucher sur quelque chose de concret. Mais après 2 ans de travail et de persévérance nous sommes heureux de vous annoncer l'existence officielle de notre association ici au Vietnam, en tant qu'ONG. Certes il reste encore beaucoup de travail avant d'exister durablement ici, mais nous sommes sur la bonne voie.

drapeau vietnamienHội nghị y học cấp cứu Pháp - Việt lần đầu tiên sẽ được tổ chức trong 3 ngày sắp tới tại TP. Hồ Chí Minh, đồng tổ chức bởi AFRAVIETMUR và bệnh viện Nhân dân Gia Định. Cũng trong dịp này, ba diễn giả đặc biệt đến từ Pháp sẽ tham gia cùng chúng tôi. Đây là hội nghị được đúc kết từ một quá trình thai nghén lâu dài. Hiệp hội Pháp - Việt về y học cấp cứu của chúng tôi được biết đến dưới tên viết tắt đơn giản là AFRAVIETMUR vào tháng Sáu 2009, khoảng vài tuần trước khi tôi đến đất nước Việt nam. Vào thời điểm đó, chúng tôi không chắc chắn hiệp hội này sẽ đạt đến một đích cụ thể nào . Nhưng sau 2 năm làm việc và cùng với sự kiên trì, nay chúng tôi vui mừng thông báo sự tồn tại chính thức của hiệp hội của chúng tôi ở đây, tại Việt Nam, như một tổ chức phi chính phủ. Dù thực tế vẫn còn rất nhiều việc phải làm nhằm tồn tại phát triển lâu dài tại đây, nhưng chúng tôi đều biết mình đang đi đúng hướng.

mercredi 28 septembre 2011

Prise en charge d'un Pneumothorax aux urgences // Điều trị tràn khí màng phổi tại Cấp cứu

drapeau françaisLe pneumothorax spontané n'est pas rare aux urgences. Il survient souvent sur des terrains prédisposés comme le fumeur ou encore les personnes longilignes. Le diagnostic ne pose pas de problème la plupart du temps, basé sur la radiographie pulmonaire. Encore faut-il savoir l'analyser avec attention. Le traitement basé historiquement sur le drainage thoracique a tendance à se modifier depuis quelques années avec l'indication de l'exsufflation à l'aiguille ou encore la pose de petits drains dits "drains de Fuhrman" qui permettent un traitement ambulatoire.

Nous présentons ici le cas d'un homme de 46 ans, victime d'un pneumothorax bilatéral spontané. Nous revenons dans un deuxième temps sur les dernières recommandations en matière de prise en charge d'un pneumothorax aux urgences en se basant sur les Guidelines de la British Society of Pneumology":

Pneumothorax: Pneumothorax

drapeau vietnamienBệnh lý tràn khí màng phổi tự phát thường rất ít gặp tại Cấp cứu. Bệnh thường xảy đến ở những cơ địa dễ bệnh, như ở người hút thuốc hoặc những người có thân hình mảnh mai. Không cần mất quá nhiều thời gian để tìm ra bệnh, chẩn đoán chủ yếu dựa vào phim X Quang phổi. Tuy nhiên, cần phải biết để phân tích một cách cẩn thận. Việc điều trị lâu dài dựa trên đặt dẫn lưu màng phổi có xu hướng thay đổi từ vài năm nay với chỉ định dẫn lưu khí bằng kim hoặc đặt các ống dẫn lưu nhỏ có tên là "ống Fuhrman" cho phép điều trị ngoại trú.

Chúng tôi trình bày sau đây một trường hợp nam 46 tuổi, bệnh nhân với bệnh lý tràn khí màng phổi tự phát hai bên. Ở giai đoạn tiếp theo, chúng tôi nêu lên các khuyến cáo mới nhất về điều trị tràn khí màng phổi tại cấp cứu dựa trên "Guidelines de la British Society of Pneumology":

Tràn khí màng phổi: Pneumothorax

Embolie Pulmonaire: toujours un diagnostic difficile // Thuyên tắc phổi: vẫn còn là một chẩn đoán khó khăn.

drapeau françaisL'embolie pulmonaire reste un diagnostic difficile aux urgences. Aucun signe n'est spécifique et le tableau clinique est partagé par de nombreux diagnostics différentiels. C'est donc un ensemble d'éléments cliniques (antécédents, facteurs de risque, douleur, dyspnée, hémoptysie, tachycardie, ...) , paracliniques (D.dimères, gazométrie, ECG, Radio Pulmonaire) qui permettent souvent d'évoquer le diagnostic. En s'appuyant sur des scores de probabilité comme le score de Genève ou le score de Wells, on peut ainsi suivre une stratégie diagnostique qui permet dans la plupart des cas de poser ou d'éliminer le diagnostic d'embolie pulmonaire. Celui-ci devra être confirmé par un angioscanner thoracique qui a remplacé la scintigraphie pulmonaire, dont la seule indication est la contre indication aux produits de contraste.

Nous exposons ici le cas clinique assez typique d'une jeune femme se présentant aux urgences pour une hémoptysie. Nous rappelons dans un deuxième temps le principe du raisonnement diagnostique qui doit être rigoureux pour ne pas passer à coté du diagnostic:

Hémoptysie: Pulmonary Embolism

drapeau vietnamienBệnh lý thuyên tắc phổi vẫn còn là một chẩn đoán khó khăn tại Cấp cứu. Bệnh không có dấu hiệu chuyên biệt và bệnh cảnh lâm sàng cũng thường cho nhiều chẩn đoán khác biệt. Vì vậy, tập hợp các yếu tố lâm sàng (tiền căn, yếu tố nguy cơ, độ đau, cơn khó thở, ho ra máu, nhịp nhanh, ...) , yếu tố cận lâm sàng (D.dimères, khí máu, ECG, X Quang phổi) thường cho phép gợi ra chẩn đoán. Dựa vào các thang điểm xác suất như thang điểm Genève hay thang điểm Wells, chúng ta có thể dựa theo một quy trình cho phép chẩn đoán hoặc loại trừ thuyên tắc phổi trong phần lớn các trường hợp. Điều này phải được xác nhận bằng CT mạch máu thay cho xạ hình phổi, là chỉ định duy nhất trong trường hợp chống chỉ định dùng thuốc cản quang.

Chúng tôi trình bày sau đây một trường hợp lâm sàng khá điển hình về một bệnh nhân nữ trẻ đến cấp cứu do ho ra máu. Ở giai đoạn tiếp, chúng tôi nhắc lại nguyên tắc chẩn đoán hợp lý và chặt chẽ nhằm không bỏ sót chẩn đoán thuyên tắc phổi:

Ho ra máu: Pulmonary Embolism

jeudi 28 juillet 2011

Développement de l'échographie aux urgences

drapeau françaisL'échographie aux urgences existe depuis de nombreuses années. Introduite dans les années 90 aux USA, elle s'est initialement limitée aux traumatismes abdominaux non pénétrants, notamment avec le concept du FAST: Focalized Assessment in Sonography for Trauma. 4 views of FAST

Aujourd'hui, de nouvelles indications viennent bouleverser nos pratiques comme l'aide à la réalisation de gestes invasifs (pose de voies centrales, drainages, blocs nerveux).
Portable ultrasoundAvec l'arrivée de nouveaux échographes portatifs, plus maniables et mobilisables, elle a même fait son apparition en pré-hospitalier. Elle commence également à être utilisée pour l'analyse du squelette et des muscles, ainsi que celle des tissus mous. Rien se semble entraver cette évolution si ce n'est la formation nécessaire des urgentistes et le coût encore élevé de ces machines portatives (de 25.000 à 50.000 USD).
Nous rappelons ici les principes de bases de l'échographie et son application au traumatismes de l'abdomen (FAST). Un petit atlas anatomique en parallèle avec des images d'échographie vient nous rappeler la correspondance entre coupes échographiques et coupes anatomiques.

Pour faire vos premiers pas en échographie aux urgences consultez le site "Ultrasound guide for Emergency Physicians": http://www.sonoguide.com/

WinfocusEnfin pour suivre les formations "Winfocus" de part le monde, rendez-vous sur le site web de Winfocus qui offre un éventail assez large des formations disponibles pour les urgentistes: http://www.winfocus.org/

drapeau vietnamien Việc siêu âm tại cấp cứu đã có từ nhiều năm nay. khởi đầu vào những năm 90 tại Hoa Kỳ, siêu âm bước đầu chỉ được giới hạn ở các trường hợp chấn thương bụng không xâm lấn, thường theo khái niệm FAST: Đánh giá khu trú chấn thương bằng siêu âm. 4 views of FAST

Ngày nay, những chỉ định mới đã làm đảo ngược thói quen của chúng tôi trong việc hỗ trợ thực hiện các thủ thuật xâm lấn (đặt đường truyền trung ương, dẫn lưu, bloc nhánh thần kinh).
Portable ultrasoundVơi sự ra đời của các loại máy siêu âm di động mới, dễ quản lý và dễ di chuyển hơn, thậm chí còn được sử dụng trong các hoạt động ngoại viện. Máy siêu âm cũng bắt đầu được dùng trong việc chẩn đoán các bệnh lý xương, cơ, cũng như các bệnh lý về mô mềm. Dường như không điều gì có thể cản trở được sự phổ biến của các lọai máy siêu âm mới này, ngay cả khi phải đào tạo chuyên môn cần thiết cho bác sĩ cấp cứu, cũng như chi phí máy siêu âm vẫn còn rất cao (khoảng 25.000 đến 50.000 USD).
Chúng tôi nhắc lại sau đây các chức năng cơ bản của siêu âm và việc áp dụng siêu âm vào các trường hợp chấn thương bụng (FAST). Một vài hình ảnh giải phẫu học kết hợp các hình ảnh siêu âm sẽ giúp ta thấy được sự tương quan giữa các lát cắt siêu âm và lát cắt giải phẫu.

Tham khảo các bước siêu âm tại cấp cứu tại trang web "Ultrasound guide for Emergency Physicians": http://www.sonoguide.com/

WinfocusCuối cùng để theo các khoá đào tạo "Winfocus" trên khắp thế giới, truy cập trang web của Winfocus sẽ cung cấp mộ̣t phạm vi khá rộng về các khóa đào tạo dành cho bác sĩ cấp cứu: http://www.winfocus.org/

mercredi 13 juillet 2011

Syndrome Pied Main Bouche

drapeau françaisLe syndrome pied main bouche est une infection virale contagieuse, due à des entérovirus (Ex: Virus Coxsackie A16 et Entérovirus 71) , qui touche essentiellement les enfants de moins de 10 ans.
HMFDLes épidémies sont fréquentes dans les crèches et les écoles en été et en début d’automne. La maladie dure généralement de 7 à 10 jours. D’évolution le plus souvent bénigne et plutôt commune, elle doit néanmoins être prise en compte car des complications neurologiques et cardio-pulmonaires (heureusement, très rares) peuvent survenir.
Le Dr Dien nous rappelle ici les principales caractéristiques de cette affection qui sévit actuellement au Vietnam (lire à ce sujet l'article ci-dessous paru dans le journal Thanh Nien du 7 juillet).

Présentation de la maladie: hand foot mouth disease


Hand, foot and mouth disease hits record in HCMC
Thanhnien Journal news, Last updated: 7/7/2011
drapeau anglaisThe number of hand, foot and mouth disease (HFMD) cases in Ho Chi Minh City has hit a record of 2,093 cases in June, the HCMC Preventive Health Center announced Wednesday. Five of the 2,093 cases were fatal, the center said. So far this year, HCMC has recorded a total 4,770 cases, including 17 fatalities. The month of May also saw 1,433 HFMD cases – the highest monthly number this year. The HCMC Preventive Health Center also reported that the number of dengue fever cases is also rising, with 887 cases reported in June, nearly doubling the figure in May. The department asked all districts to raise people’s awareness of the disease and strengthen sterilization work at schools and residential areas.
The HCMC Preventive Health Center also reported that the number of dengue fever cases is also rising, with 887 cases reported in June, nearly doubling the figure in May. Dengue fever has claimed two lives in HCMC this year.
HFMD usually affects infants and children, and is quite common. It is moderately contagious and is spread through direct contact with the mucus, saliva, or feces of an infected person. It typically occurs in small epidemics in nursery schools or kindergartens, usually during the summer and autumn months.

drapeau vietnamienHội chứng tay chân miệng là một bệnh truyền nhiễm do nhiễm siêu vi, gây ra bởi các entérovirus (Ví dụ: Virus Coxsackie A16 và Entérovirus 71), ảnh hưởng chủ yếu ở trẻ dưới 10 tuổi. Dịch phổ biến ở các nông trại và trường học vào thời điểm hè và đầu thu. Bệnh thường kéo dài từ 7 đến 10 ngày. Bệnh tiến triển hầu hết nhẹ và khá phổ biến, tuy vậy vẫn cần được kiểm soát do bệnh có thể gây ra các biến chứng thần kinh và tim phổi (may mắn là rất hiếm).
Sau đây, Bác sĩ Diễn sẽ nhắc lại cho chúng ta các đặc điểm chính của bệnh nhiễm này hiện đang hoành hành tại Việt Nam (đọc bài viết dưới đây trong tờ Thanh Niên ngày 07/7).

Giới thiệu chung về bệnh tay chân miệng: hand foot mouth disease

Hand, foot and mouth disease hits record in HCMC
Thanhnien Journal news, Last updated: 7/7/2011

vendredi 3 juin 2011

Tachycardie à complexes QRS larges / Nhịp nhanh với phức bộ QRS rộng :

drapeau françaisLa différence entre une tachycardie supra-ventriculaire et une tachycardie ventriculaire est souvent évidente. Cependant, dans certaines situations le diagnostic peut être rendu difficile par l'existence d'un trouble de conduction pré-existant comme un bloc de branche. S'il n'existe pas d'ECG de référence, il peut être compliqué de différencier l'origine de la tachycardie.
Le Dr Khanh nous donne ici quelques astuces pour permettre de faire la part des choses entre tachycardie supra-ventriculaire et ventriculaire.

Wide QRS tachycardia: Wide QRS tachycardia

drapeau vietnamienSự khác nhau giữa một nhịp nhanh trên thất và một nhịp nhanh thất thường rất rõ ràng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chẩn đoán có thể trở nên khó khăn do đã có chứng rối loạn dẫn truyền trước đó ví dụ như bloc nhánh. Nếu không được đo điện tâm đồ trước, có thể trở nên phức tạp trong việc phân biệt nguyên nhân nhịp nhanh.
Tiếp đây, Bác sĩ Khánh đưa ra một vài bí quyết giúp phân biệt được nhịp nhanh trên thất và nhịp nhanh thất.

Wide QRS tachycardia: Wide QRS tachycardia

mercredi 1 juin 2011

What's new in cardio-pulmonary resuscitation in 2011 / Có gì mới trong hồi sức tim phổi năm 2011

drapeau françaisLes recommandations en matière de resuscitation cardio-pulmonaires ont changées il y a environ 5ans. La fréquence des compressions thoraciques et de la ventilation (bouche à bouche ou ventilation à l'insufflateur) est passée de 15/2 à 30/2 actuellement. Cette tendance risque de continuer encore car de plus en plus. Il apparaît également très important d'insister sur le dépistage rapide des patients en fibrillation afin qu'ils puissent bénéficier des dernière techniques de resuscitation.
CPR guidelines 2011:CPR updates 2011

drapeau anglaisCardio-pulmonary resuscitation guidelines have changed for some years. The rate of chest compressions / rescue breath is now 30/2 for all ages (except newborns) and the experts insist on the importance of chest compression. A lot of studies demonstrate that chest compressions are much more important than respiration at the beginning of a cardiac arrest. The guidelines insist also on the importance to push "hard and fast" at a rate of at least 100 compressions/minutes. In this presentation, Dr Tan recall us the main changes in CPR guidelines in 2011:
CPR guidelines 2011: CPR updates 2011

drapeau vietnamienCác khuyến nghị về hồi sức tim phổi đã thay đổi từ khoảng 5 năm trước. Tần số xoa bóp tim ngoài lồng ngực và thông khí (miệng qua miệng hoặc bằng máy trợ thở) từ 15/2 hiện nay đã là 30/2. Xu hướng này có thể tiếp tục thậm chí còn nhiều hơn nữa. Cần nhấn mạnh rằng khuynh hướng này cũng rất quan trọng trong việc phát hiện kịp thời các trường hợp bệnh nhân rung thất hoặc rung nhĩ để họ có thể hưởng được các kỹ thuật hồi sức mới nhất.
CPR guidelines 2011:CPR updates 2011

mardi 22 février 2011

Prevention du tétanos aux urgences / Phòng ngừa bệnh uốn ván tại Cấp Cứu

drapeau françaisLe Vietnam a fait beaucoup de progrès dans la prévention du tétanos depuis une quinzaine d'années. Une étude publiée par l'hôpital des maladies tropicales de Ho Chi Minh ville en 2004, a pu ainsi montrer que l'incidence de la maladie avait considérablement diminué entre 1993 et 2002. Le pourcentage d'enfants de moins de 10 ans admis pour tétanos est ainsi passé de 11 à 5,6% en 10 ans, tandis que celui des femmes âgées de 20 à 40 ans est tombé de 10 à 1,2% sur la même période. Dans le même temps, le taux de mortalité est passé de 28 à 10%. En 2006, avec moins de 1 cas sur 1000 naissances, l'OMS annonçait officiellement l'éradication du tétanos néonatal en tant que problème de santé publique au Vietnam.
Il n'en demeure pas moins que le tétanos reste un problème au Vietnam, en particulier chez les populations échappant aux campagnes de vaccination, comme les personnes âgées ou les populations rurales.
Les patients qui consultent aux urgences pour des plaies doivent donc faire l'objet d'un interrogatoire minutieux afin de déterminer le risque tétanique, basé sur leur immunisation antérieure et la nature de la blessure. Si le doute persiste sur une vaccination antérieure et si la plaie est jugée à risque, alors le patient recevra une injection d'immunoglobulines anti-tétaniques en plus du vaccin. Si le patient a reçu une première série d'injections de toxine anti-tétanique même lointaine, un simple rappel appelé "booster" relancera l'immunité.
Nous vous présentons ici une conduite à tenir pratique sur la prévention du risque tétanique aux urgences.

Risque tétanique aux urgences (Dr Hai): Tetanus
Incidence and outcome of tetanus in southern Vietnam (1993-2002): Tetanus in southern Vietnam (WHO study)

drapeau vietnamienViệt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc phòng ngừa uốn ván từ hơn mười lăm năm qua. Năm 2004, nghiên cứu của bệnh viện Nhiệt Đới TP.HCM cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể trong những năm 1993 đến 2002. Tỷ lệ trẻ em dưới 10 tuổi nhập viện do bệnh uốn ván từ 11% còn 5,6% trong vòng 10 năm, trong khi tỷ lệ phụ nữ từ 20 đến 40 tuổi giảm thấp từ 10 còn1,2% tại cùng thời điểm. Đồng thời, tỷ lệ tử vong giảm từ 28 còn 10%. Năm 2006, với ít hơn một trường hợp mắc bệnh trong 1000 ca sơ sinh, Tổ chức y tế thế giới đã chính thức công bố loại bỏ bệnh uốn ván ở trẻ sơ sinh khỏi các vấn đề sức khoẻ cộng đồng tại Việt Nam.
Thực tế thì bệnh uốn ván vẫn là một vấn nạn tại Việt Nam, đặc biệt ở các vùng dân cư ngoài vùng tiêm chủng, như ở người già hoặc ở các vùng nông thôn.
Bệnh nhân thăm khám tại Cấp Cứu do các vết thương phải được kiểm tra cẩn thận nhằm xác định nguy cơ uốn ván, dựa trên việc chủng ngừa trước đó và dựa trên tính chất vết thương. Nếu có nghi ngờ về việc chủng ngừa trước đó và nếu vết thương có nhiều nguy cơ, bệnh nhân sẽ được tiêm ngừa kháng thể kháng uốn ván ngoài vac-xin đã chích trước đó. Nếu bệnh nhân đã được chích ngừa uốn ván đầy đủ nhưng đã qua một thời gian khá lâu, chich mốt liều nhắc lại sẽ thúc đẩy tăng cường miễn dịch.
Chúng tôi giới thiệu sau đây một nghiên cứu thực tế về phòng ngừa nguy cơ uốn ván tại Cấp Cứu.

Nguy cơ uốn ván tại Cấp Cứu (Dr Hai): Tetanus
Tỷ lệ và kết quả mắc bệnh uốn ván khu vực miền Nam Việt Nam (1993-2002): Tetanus in southern Vietnam (WHO study)

mardi 15 février 2011

Traumatismes du membre supérieur / Chấn thương chi trên

drapeau françaisLes traumatismes du membre supérieur constituent une cause fréquente de consultation dans les services d'urgences. Nous passons ici en revue les principales lésions traumatiques allant de l'épaule et la clavicule au poignet, en passant par l'humérus, le coude et le radius. Cette présentation se veut avant tout pragmatique et vise à aider le médecin urgentiste dans son examen clinique et dans ses choix thérapeutiques, en se basant sur les données les plus récentes en matière de chirurgie. Une place importante est donnée aux luxations de l'épaule avec l'importance d'un bilan complet où l'IRM est l'examen de choix, permettant de mettre en évidence des lésions passées inaperçues aux rayons X. Ce bilan permettant de poser l'indication d'une chirurgie réparatrice qui préviendra les récidives (jusqu'à 80% de récurrences selon les âges).
Dans un deuxième temps nous vous présentons également un diaporama consacré à la rééducation du membre supérieur traumatisé, en insistant sur la précocité de cette rééducation ("early motion").

Traumatismes du membre supérieur: Upper limb trauma
Rééducation du membre supérieur: Rehabilitation upper limb

drapeau vietnamienChấn thương chi trên là lý do khám bệnh thường gặp tại khoa Cấp Cứu. ở đây ta xem xét các tổn thương chủ yếu do chấn thương từ vai và xương đòn đến cổ tay, qua khuỷu tay, cánh tay và xương quay. Bài thuyết trình dựa trên thực tế và nhằm mục đích hỗ trợ các bác sĩ cấp Cứu trong viếc khám lâm sàng và tìm phác đồ điều trị, dựa trên các dữ liệu mới nhất về phẫu thuật. Bệnh lý di lệch xương vai được xem là nghiêm trọng với tầm quan trọng của các xét nghiệm lâm sàng đầy đủ, trong đó chụp MRI là xét nghiệm cần được lựa chọn, cho phép phát hiện rõ các tổn thương mà chụp XQuang không thể tìm thấy. Kết quả này cho phép hướng đến chỉ định phẫu thuật chỉnh sửa nhằm ngăn ngừa tái phát (thường tái phát đến 80% tùy theo độ tuổi).
Tiếp đây, chúng tôi giới thiệu đồng thời đến các bạn một "slide" chia sẻ liệu pháp phục hồi chấn thương chi trên, trọng tâm là phục hồi chức năng sớm của phương pháp trị liệu này ("tác động sớm").

Chấn thương chi trên: Upper limb trauma
Phục hồi chức năng chi trên: Rehabilitation upper limb

mercredi 1 décembre 2010

Urgences ORL: la cricothyrotomie / Cấp cứu Tai Mũi Họng: kỹ thuật mở màng giáp nhẫn

drapeau françaisLes urgences ORL et dentaires ne sont pas les plus fréquentes dans les services d'urgence, c'est justement pour cette raison qu'il nous est apparu important d'en parler.
TracheoQuick
Nous vous présentons ici un diaporama sur la technique de cricothyrotomie en urgence à l'aide du TrachéoQuick. Cette technique de sauvetage consiste à perforer la membrane cricothyroidienne afin de restaurer une ventilation rendue impossible du fait d'une obstruction glottique due à un corps étranger, un traumatisme ou un oedeme laryngé.

Deux petites vidéo viennent compléter cette présentation, la première montre la technique dite de Seldinger, la seconde la technique dite chirurgicale.

///%%% ///html



drapeau vietnamienCấp cứu Tai Mũi Họng: kỹ thuật mở màng giáp nhẫn__
Các trường hợp cấp cứu tai mũi họng và cấp cứu nha không thường gặp lắm tại khoa Cấp cứu, chính vì vậy mà vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn khi được đưa ra thảo luận..
TracheoQuick
Chúng tôi giới thiệu sau đây 1 slideshow về kỹ thuật mở màng giáp nhẫn với bộ dụng cụ TrachéoQuick. Kỹ thuật cấp cứu này là đâm thủng màng giáp nhẫn khẩn nhằm thiết lập thông khí do tắt nghẽn thanh môn do dị vật, chấn thương hoặc do phù thanh quản.

Hai đoạn phim ngắn sau bổ sung cho bài trình bày, đoạn phim thứ nhất chỉ ra kỹ thuật có tên Seldinger, đoạn phim thứ hai là một đoạn phim về kỹ thuật ngoại khoa.

///%%% ///html

Prise en charge des polytraumatisés aux urgences / Điều trị đa chấn thương tại Cấp Cứu

drapeau françaisRécemment, c'est tenu à Hanoï le premier congrès de médecine d'urgence consacré aux soins pré-hospitaliers. Co-organisé par les hôpitaux de Bach Mai et de Thanh Nhan à Hanoi d'une part et l'hôpital St Anthony de Denver et la Mayo Clinic de Rochester aux USA, cette conférence faisait la part belle au système des paramedics américain. Mais ce concept est-il exportable au Vietnam? Rien n'est moins sûr. Ce qui est sûr, c'est que les rues encombrées de Hanoi ou de HCM n'ont pas grand chose à voir avec les avenues américaines et qu'il faudra probablement plus de 10 ans pour mettre en place un système pré-hospitalier digne de ce nom. En attendant, les taxi-ambulances Vietnamiens ont encore de beaux jours devant eux, et il vaudrait peut-être mieux chercher à améliorer ce système, certes déficient, plutôt qu'à vouloir à tout prix l'abandonner.
Nous vous présentons ici trois diaporamas consacrés à la mortalité préhospitalière à Ho Chi minh, la prise en charge d'un patient instable aux urgences ainsi qu'un cas clinique de polytraumatisme désespéré...


drapeau vietnamienVừa qua, hội nghị cấp cứu nội lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội trình bày về phác đồ chăm sóc trước nhập viện. Đồng tổ chức giữa bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Thanh Nhàn đại diện phía Hà Nội và bệnh viện St Anthony ở Denver và phòng khám Mayo ở Rochester tại Mỹ, hội nghị này nhằm giới thiệu về hệ thống vận chuyển xe cứu thương tại Mỹ. Nhưng liệu hệ thống này có thể triển khai tại Việt Nam? Không có gì là không chắc chắn. Điều chắc chắn là hệ thống đường phố đông đúc tại Hà Nội hoặc tại TP.HCM hiện tại không thể so sánh được với các đại lộ của Mỹ, và rất có thể phải mất hơn 10 năm mới có thể xây dựng được một hệ thống cấp cứu tiền viện đúng chuẩn mực. Trong khi chờ đợi, loại xe cấp cứu dạng nhỏ của Việt nam vẫn là những lựa chọn ưu tiên, và tốt hơn hết là cố gắng cải thiện hệ thống này, măc dù vẫn chưa hoàn thiện, hơn là phải phá bỏ hệ thống này.
Chúng tôi giới thiệu sau đây 3 "slides" báo cáo số lượng bệnh nhân tử vong trước nhập viện tại TP.HCM, điều trị một bệnh nhân với dấu hiệu lâm sàng không ổn định tại cấp cứu cũng như 1 trường hợp đa chấn thương không hi vọng cứu sống...

mardi 28 septembre 2010

Prise en charge des céphalées aux urgences / Điều trị chứng nhức đầu tại khoa Cấp Cứu

drapeau françaisLes céphalées sont des motifs fréquents de consultations aux urgences. Ce symptôme assez banal, peut être une manifestation d'un simple syndrome grippal ou d'une céphalée dite de tension. Mais il peut aussi être un signe d'affections beaucoup plus graves comme une méningite, ou une hémorragie méningée. Le médecin urgentiste devra là encore s'appuyer sur un interrogatoire soigneux, qui devra préciser le caractère brutal, inaugural ou au contraire chronique. Il devra essayer de préciser les caractéristiques de la douleur, pulsatile, unilatérale ou au contraire continue, bilatérale. Les signes associés comme de la fièvre, des vomissements, une photophobie, ou l'existence de signes neurologiques seront recherchés systématiquement. Enfin, certains patients présentant des signes de gravité devront bénéficier d'examens complémentaires parmi lesquels le scanner cérébral et l'analyse du liquide céphalorachidien par ponction lombaire ont une place importante. Ce n'est qu'à la fin de ce processus que l'on pourra établir une cause. Le diagnostic de migraine ne sera évoqué qu'à l'issue du processus, lorsque d'autres étiologies "plus graves" auront été éliminées, en se basant sur les critères énoncés par l'International Headache Association en 1996.
Nous vous proposons ici 3 petits cas cliniques pour vous montrer les pièges que peuvent revêtir un motif aussi banal de consultation.
Cas clinique n°1: Headache
Cas clinique n°2: Headache
Cas clinique n°3: Headache

drapeau vietnamienNhức đầu là một trong những bệnh lý thường gặp khi bệnh nhân đến thăm khám tại khoa Cấp cứu. Triệu chứng này khá phổ biến, có thể là biểu hiện của hội chứng cúm thông thường hoặc là một cơn nhức đầu do vấn đề huyết áp. Nhưng đó cũng có thể là một dấu hiệu nhiễm trùng nghiêm trọng hơn rất nhiều như viêm màng não hoặc xuất huyết dưới nhện. Bác sĩ cấp cứu phải đánh giá bệnh kỹ hơn dựa trên một cuộc kiểm tra cẩn thận, nhằm xác định các dấu hiệu đột ngột, mới chớm hoặc ngược lại là các dấu hiệu mãn tính. Bác sĩ Cấp cứu phải xác định được các đặc điểm đau: đau theo nhịp đập, đau một bên hoặc ngược lại đau liên tục, đau cả hai bên. Các dấu hiệu đi kèm như sốt, ói, chứng sợ ánh sáng hay sự tồn tại các dấu hiệu thần kinh phải được khai thác triệt để. Sau cùng, một vài bệnh nhân thể hiện các dấu hiệu trầm trọng phải được làm các xét nghiệm lâm sàng hỗ trợ, trong số đó, chụp CT não và làm xét nghiệm phân tích dịch não tủy bằng cách chọc dò tủy sống là rất cần thiết. Chỉ khi đến cuối quá trình này ta mới có thể thiết lập nguyên nhân gây bệnh. Việc chẩn đoán chứng đau nửa đầu chỉ được gợi lên vào cuối quá trình khám, khi mà các nguyên nhân "nghiêm trọng hơn" đã được loại trừ, dựa trên các tiêu chí do Hiệp hội quốc tế về chứng Nhức đầu đưa ra năm 1996. Chúng tôi giới thiệu sau đây 3 trường hợp lâm sàng nhỏ để chỉ ra những cạm bẫy có thể mắc phải từ những lý do khám bệnh rất thông thường.

Trường hợp lâm sàng số 1: Headache
Trường hợp lâm sàng số 2: Headache
Trường hợp lâm sàng số 3: Headache

- page 2 de 3 -